NHẠC SĨ PHẠM ĐÌNH CHƯƠNG VÀ NỬA HỒN THƯƠNG ĐAU

  • Một chút tiểu sử :
  • Nhạc sĩ Phạm Đình Chương sinh năm 1929 và qua đời vào năm 1991. Khi soạn nhạc ông ký bút hiệu Phạm Đình Chương, còn đi hát, chỉ trong ban hợp ca Thăng Long, ông có tên gọi ca sĩ Hoài Bắc.Nhạc sĩ Phạm Đình Chương sinh 14/11/1929 tại Bạch Mai, Hà Nội. Quê nội ở Hà Nội còn quê ngoại ở Sơn Tây. Ông xuất thân trong một gia đình mang truyền thống âm nhạc, thân phụ là Phạm Đình Phụng. Người vợ đầu của cha ông, sinh được 2 người con trai tên Phạm Đình Sỹ và Phạm Đình Viêm. Phạm Đình Sỹ lập gia đình với nữ kịch sĩ Kiều Hạnh và có con gái là ca sĩ Mai Hương. Còn Phạm Đình Viêm tức ca sĩ Hoài Trung, trong ban hợp ca Thăng Long như đã nói. Người vợ sau tức mẹ ruột Phạm Đình Chương sinh 3 người gồm trưởng nữ là Phạm Thị Quang Thái, tức ca sĩ Thái Hằng vợ nhạc sĩ Phạm Duy. Con trai thứ là nhạc sĩ Phạm Đình Chương, và cô con gái út là Phạm Thị Băng Thanh, tức nữ ca sĩ Thái Thanh.
  • Từ  nhỏ Phạm Đình Chương được nhiều người chỉ dẫn về nhạc lý, nhưng phần lớn ông vẫn tự học là chính. Trong những năm đầu kháng chiến, Phạm Đình Chương tức ca sĩ Hoài Bắc cùng các anh chị em ruột hai dòng như Hoài Trung, Thái Hằng, Thái Thanh gia nhập ban văn nghệ Quân đội ở Liên Khu IV, để từ đó thành tên Ban hợp ca Thăng Long.
  •  

    Nhạc sĩ Phạm Đình Chương bắt đầu sáng tác âm nhạc vào năm 1947, lúc mới 18 tuổi, nhưng phần nhiều nhạc phẩm của ông thường được xếp vào dòng tiền chiến bởi mang phong cách trữ tình lãng mạn. Các nhạc phẩm đầu tiên như g, Hò Leo Núi… có không khí hùng tráng tươi trẻ.

     

  • Năm 1954, nhạc sĩ Phạm Đình Chương cùng gia đình chuyển vào miền Nam sinh sống, rồi tái lập lại Ban hợp ca Thăng Long để hoạt động. Thời kỳ này các sáng tác của ông thường mang âm hưởng miền Bắc như nói lên tâm trạng hoài hương của mình như các nhạc phẩm : Khúc giao duyên, Thằng Cuội, Được mùa, Tiếng dân chài… Thời gian sau, ông viết nhiều bản nhạc nổi tiếng và vui tươi hơn : Xóm đêm, Đợi chờ, Ly rượu mừng, Đón xuân…
  • Sau khi cuộc hôn nhân với nữ ca sĩ Khánh Ngọc tan vỡ, ông bắt đầu sáng tác tình ca. Ông đem tâm trạng đau thương vào những bài nhạc tình da diết, đau nhức, buốt giá : Đêm cuối cùng, Thuở ban đầu, Người đi qua đời tôi, Nửa hồn thương đau…
  • Có thể nói Phạm Đình Chương là một trong những nhạc sĩ phổ thơ hay nhất. Nhiều bản nhạc phổ thơ của ông đã trở thành những bài hát bất hủ, có một sức sống riêng như Đôi mắt người Sơn Tây (thơ Quang Dũng), Mộng dưới hoa (thơ Đinh Hùng), Nửa hồn thương đau (thơ Thanh Tâm Tuyền), Đêm nhớ trăng Sài Gòn (thơ Du Tử Lê)… ông cũng đóng góp cho nền tân nhạc Việt với một bản trường ca bất hủ mang tựa “Hội trùng dương” viết về ba con sông nước Việt là sông Hồng, sông Hương và sông Cửu Long.
  • Sau 1975 nhạc sĩ Phạm Đình Chương định cư tại California, Hoa Kỳ, và mất vào ngày 22/8/1991.
  • “NỬA HỒN THƯƠNG ĐAU” VỚI TÂM SỰ RIÊNG TƯ
  • Vào những năm 1960 thế kỷ trước, báo chí Sài Gòn đã hao tốn rất nhiều giấy mực vì phải đăng nhiều kỳ vụ nhạc sĩ Phạm Đình Chương ly dị vợ là nữ ca sĩ Khánh Ngọc. Tòa án xét xử nhiều lần chưa xong, vì thế vụ việc càng làm cả hai trở nên nổi tiếng, vừa theo nghĩa bóng lẫn nghĩa đen.
  •      

  • Bởi lúc đó, ban hợp ca Thăng Long đang nổi đình đám nhất trong sinh hoạt ca vũ nhạc kịch thời bấy giờ, lúc ấy “nhóm Thăng Long” bao gồm nhiều nghệ sĩ nổi danh như Hoài Trung, vợ chồng ca sĩ Thái Hằng – Phạm Duy, ca sĩ Thái Thanh, vợ chồng ca nhạc sĩ Phạm Đình Chương (Hoài Bắc) – Khánh Ngọc. Nếu không kể đến người chị dâu Kiều Hạnh cũng là một nữ kịch sĩ đang được ái mộ trên các sân khấu thoại kịch.
  •    

  • Phải nói trong thời gian sau 1954, các ca kịch sĩ miền Bắc xuất hiện rất đông đảo trên các sân khấu lẫn đài phát thanh như Vũ Huân, Vũ Huyến, Lê Văn Vũ Bắc Tiến, Kiều Hạnh, Duy Trác, Anh Ngọc, Châu Hà, Hà Thanh v.v… Một phần, do ca sĩ trong Nam lúc đó chưa xuất hiện nhiều tên tuổi lớn, chỉ có một số ca sĩ đầy triển vọng từ phòng trà Đức Quỳnh giới thiệu như Bạch Yến, Cao Thái, sau có Minh Hiếu, Thanh Thúy, Túy Phượng… nhỏ hơn thì có Quốc Thắng, Kim Chi trong ban nhi đồng của nhạc sĩ Nguyễn Đức.
  • Khánh Ngọc đang là vợ của nhạc sĩ Phạm Đình Chương, là một ca sĩ được nhiều người biết với tên gọi “ngọn núi lửa”, bởi cô có bộ ngực hấp dẫn và thường quyến rũ khán giả say đắm mỗi khi cô lên hát.
  • Trước khi đưa đơn ra tòa, nhạc sĩ Phạm Đình Chương đã nghe phong phanh Khánh Ngọc ngoại tình. Nhưng vì tình yêu nên ông vẫn tin tưởng vợ và bỏ ngoài tai tất cả những nguồn tin “lá cải” ấy. Cho đến khi biết được sự thật không thể phủ nhận được , Ông đau đớn đến không còn muốn sống vì ông rất yêu vợ, nhưng bấy giờ dư luận xã hội đều đã rõ tường tận nên đành phải gửi đơn xin ly dị.
  • Đây là quãng thời gian đau khổ, Phạm Đình Chương không còn tâm trí biểu diễn cùng các anh chị trong Ban hợp ca Thăng Long, ông lui về trong bóng tối thầm lặng viết những bài tình ca buồn, như để tâm sự với chính mình. Một loạt ca khúc mang tâm trạng như thế ra đời như “Đêm cuối cùng”, “Người đi qua đời tôi”, “Khi cuộc tình đã chết”, “Thuở ban đầu”, “Khi tôi chết hãy đem tôi ra biển”…
  • Sau khi ly dị, nhạc sĩ Phạm Đình Chương được quyền nuôi con, khi ấy mới khoảng 4 – 5 tuổi, ông bắt đầu đi hát trở lại. Một lần tình cờ gặp Khánh Ngọc trên một sân khấu đại nhạc hội, ông có ý muốn đưa cô vợ đã ly dị về nhà vì trời đang mưa, nhưng bị từ chối. Bởi vậy khi lặng lẽ trở về căn nhà kỷ niệm với một thời sống cùng Khánh Ngọc, nhìn qua màn mưa nhớ về những ngày hạnh phúc, giờ đang trôi theo dòng nước.… có người nói Phạm Đình Chương định tự tử lúc bấy giờ, nhưng nghe tiếng khóc của con, ông mới từ bỏ ý định !?
  • Hình ảnh của đêm khốn cùng ấy đã đi vào từng lời bài hát “ Nửa hồn thương đau” được Phạm Đình Chương viết trong đêm rã rời đó. Nếu ai đã nghe một lần bài hát này và cũng đồng cảm với cuộc đời của ông sẽ hiểu được tâm hồn con người chỉ có thể chịu đựng một giới hạn nhất định.
  • NGƯỜI PHỔ THƠ MANG TÍNH THIÊN TÀI

  • Thật ra nhạc phẩm “Nửa hồn thương đau” của Phạm Đình Chương là được ông phổ từ thơ của Thanh Tâm Tuyền qua bài thơ “Lệ đá xanh”, nhưng ông đã đổi tựa và thêm ý tứ cho phù hợp với tâm trạng của ông lúc bấy giờ.
  • Có người nhận xét, lối phổ thơ thành nhạc của nhạc sĩ Phạm Đình Chương mang đặc tính thiên tài, từ những vần thơ của các thi sĩ trở thành những nhạc phẩm luôn lưu lại nhiều kỷ niệm sâu đậm trong lòng người ái mộ như các ca khúc Đôi mắt người Sơn Tây (thơ Quang Dũng), Nửa hồn thương đau, Đêm màu hồng, Dạ tâm khúc (thơ Thanh Tâm Tuyền), Màu kỷ niệm (thơ Nguyên Sa), Mưa Sài Gòn mưa Hà Nội (thơ Hoàng Anh Tuấn), Người đi qua đời tôi (thơ Trần Dạ Từ),  cho
  • Có người nói sự nghiệp của nhạc sĩ Phạm Đình Chương còn rộng tỏa trên bình diện của thể nhạc trữ tình lãng mạn, với những sáng tác phong phú đủ chủ đề về tuổi trẻ, tình yêu, hiện thực, hoặc chia sẻ nhịp rung cảm cùng mọi người như các tác phẩm : Bài ca tuổi trẻ, Thuở ban đầu, Mười thương, Mộng dưới hoa, Bài ca ngợi tình yêu, Đêm cuối cùng, Heo may tình cũ, Xóm đêm v.v…
  • Xuyên qua các nhạc phẩm trên, người ta lại càng nhận thức đầy đủ hơn nơi ý nhạc lời ca của Phạm Đinh Chương có một tâm hồn tươi trẻ, nồng nhiệt và cũng không kém phần thương đau, xót xa trong tan vỡ của yêu đương luyến nhớ, hay những khối chân tình qua từng bước chân phiêu bạt mà ông đã đi qua “Có lẽ sự rung động dễ thương của những con tim khi chớm nở loài hoa tình yêu mới là cảm xúc tuyệt diệu nhất được Phạm Đình Chương diễn tả bằng chính nội tâm hiện thực của ông qua ca khúc “Mộng dưới hoa” phổ thơ Đinh Hùng :
  • Chưa gặp em anh vẫn nghĩ rằng Có nàng thiếu nữ đẹp như trăng Mắt xanh là bóng dừa hoang dại Âu yếm nhìn anh không nói năng ….
  • Sau đây là những nhạc phẩm do nhạc sĩ Phạm Đình Chương phổ từ thơ (một vài ca khúc tiêu biểu)
  • NỬA HỒN THƯƠNG ĐAU- ( Phổ thơ Thanh Tâm Tuyền )
    Nhắm mắt cho tôi tìm một thoáng hương xưa / Cho tôi về đường cũ nên thơ / Cho tôi gặp người xưa ước mơ / Hay chỉ là giấc mơ thôi / Nghe tình đang chết trong tôi / Nghe lòng tiếc nuối xót thương suốt đời Nhắm mắt ôi sao nửa hồn bỗng thương đau / Ôi sao ngàn trùng mãi xa nhau Hay ta còn hẹn nhau kiếp nào / Em ở đâu? Anh ở đâu? / Có chăng mưa sầu buồn đen mắt sâu.Nhắm mắt chỉ thấy một chân trời tím ngắt / Chỉ thấy lòng nhớ nhung chất ngất / Và tiếng hát và nước mắt.Đôi khi anh muốn tin/ Đôi khi anh muốn tin / Ôi những người ôi những người / Khóc lẻ loi một mình…
  • ĐÔI MẮT NGƯỜI SƠN TÂY-(  Phổ thơ Quang Dũng ) Thương nhớ ơ hờ thương nhớ ai / Sông xa từng lớp lớp mưa dài / Mắt em ơi mắt em xưa có sầu cô quạnh / Khi chớm thu về, khi chớm thu về một sớm maiĐôi mắt Người Sơn Tây / U uẩn chiều luân lạc / Buồn viễn xứ khôn khuây, / Buồn viễn xứ khôn khuây / Em hãy cùng ta mơ / Mơ một ngày đất mẹ / Ngày bóng dáng quê hương / Đường hoa khô ráo lệ
  • Tôi từ chinh chiến đã ra đi / Chiều xanh không thấy bóng Ba Vì / Sông Đáy chạm nguồn quanh phủ Quốc / Non nước u hoài, non nước hao gầy, ngày chia tayEm vì chinh chiến thiếu quê hương / Sài Sơn, Bương Cấn mãi u buồn / Tôi nhớ xứ Đoài mây trắng lắm / Em có bao giờ, Em có bao giờ, Em thương nhớ thương.
  • Ðịnh Mệnh Buồn

  • Một người tình đột nhiên cách xa. Một người chờ, năm tháng dài, đằng đẳng xót xa. Nghe đêm mưa, gió lạnh dật dờ. Nghe yêu đương, bóng đêm mong hờ.
    Trời lửa khói bước anh đi, Chờ tình chết trong chia ly, ái ân xưa còn chi ngậm ngùi, thao thức từng đêm trắng khó nguôi Khi bên nhau, ước mộng tuyệt vời Khi xa nhau, nói thương trọn đời Chỉ còn đó nỗi đơn côi, âm thầm nhớ nhung không thôi Trong suốt một kiếp người .
  • Yêu là sao? Hận tình là sao? Khi cơn chinh chiến chia lìa nhau Có em lẻ loi giữa cơn giông đời, tủi hờn đớn đau Có ngờ đâu một cách biệt nhau “ Tình trong giây phút, bỗng thành thiên thu “ Ðịnh mệnh buồn, tình trong phút giây Ðịnh mệnh buồn, ôm mối sầu, ai oán khó khuây Ôi ! cô đơn héo mòn hình hài Ôi ! đau thương ngất ngư miệt mài Kỷ niệm cũ, có phôi phai. Khi rượu uống không hề say Mà chỉ là đắng cay.
  • Nguyễn Việt
  • http://www.youtube.com/watch?v=hi9A8Q2Z0fo   

    Nữ nghệ sĩ Khánh Ngọc

  • Khánh Ngọc là một ca sĩ thành danh trong làngnhạc từ những năm giữa thập niên 1950 đến đầu thập niên 1960.Cô còn là một diễn viên điện ảnh nổi tiếng trước cả Kim Cương, Thẩm Thúy Hằng, Trang Thiên Kim, Kiều Chinh…Khán giả ngày hôm nay có thể không biết đến cô, nhưng trong ký ức những khán giả miền nam trước năm 1975…và nhất là những khán giả tuổi U60-70 thì Khánh Ngọc là một trong những ngôi sao thuộc thế hệ đầu tiên sáng chói trong làng điện ảnh Sài Gòn.
  •  

       

  • Nhờ khả năng diễn xuất của mình, Khánh Ngọc đem diễn xuất vào diễn tả những bản nhạc mà cô trình bày rất hấp dẫn . Khi hát bản “Cerisier Roses et Pommiers Blances” lời Việt, khi vào câu đầu : “Vườn xuân ong bướm , Ngất ngây ngất ngây lòng ta…” thì chị lim dim mắt, thở dài một cái sượt, tay đè lên quả tim . Rồi chị mở mắt liếc khán giả và nở một nụ cười thật lẳng làm khán giả đực rựa khoái chí vỗ tay hoan nghênh nhiệt liệt…Và chẳng hạn ở bản “Thơ Ngây” của Anh Việt, khi hát tới đoạn diễn tả tình yêu đầu đời : “Rồi một hôm .Có chàng trai trẻ đến nơi nầy .Đời em có một lần .Là lần tim em thấy yêu chàng …” thì chị ngoẻo đầu sang một bên làm vẻ vừa thẹn vừa lẳng thật đẹp, thật khả ái làm mọi người trong rạp cười rộ lên khoái tỉ và họ cổ võ chị nồng nhiệt” .
  •    

  • Từ nhỏ, lúc còn đi học cô rất thích ca nhạc, nên năm 12 tuổi đã theo học nhạc với nhạc sĩ Dương Thiệu Tước và Minh Trang, lúc đó cặp nghệ sĩ này giữ phần ca nhạc ở Đài Phát Thanh Pháp Á và Quốc Gia. Cuộc đời nghệ thuật của cô bắt đầu từ đó. Bản nhạc đầu tiên cô trình diễn là bản “Tiếng Hát Lênh Đênh” của Từ Pháp, hát ở rạp Nam Việt, Saigon. Lúc đó trước khi trình chiếu phim luôn có những chương trình phụ diễn tân nhạc và Ca sĩ Khánh Ngọc đã hát hằng tuần ở các rạp Nam Việt, Nam Quang, Văn Cầm, Đại Nam và đi lưu diễn nhiều nơi khác.
  • Đến năm 13, 14 tuổi Ca sĩ Khánh Ngọc hát ở các Đài Phát Thanh và hát trong các chương trình đại nhạc hội ở Saigon, các tỉnh, Đà Lạt, và ra Miền Trung, Sau đó Ca sĩ Khánh Ngọc gia nhập Ban Gió Nam trong đó có Thái Thanh, Thái Hằng, Hoài Trung và Hoài Bắc, rồi ra Bắc thì có Trần Văn Trạch, Nhạc sĩ Võ Đức Thu và ban ca nhạc nhảy múa là Lưu Hồng, Lưu Bình. Vào năm 1955 có phái đoàn ngoại quốc đến Saigon để tìm các diễn viên cho phim “Ánh Sáng Miền Nam”. Đạo diễn phim này là người Phi Luật Tân cũng chọn nhiều diễn viên, nhưng qua một chương trình nhạc cảnh “Được Mùa” do Ban Hợp ca Thăng Long trình diễn tại rạp Việt Long, Đạo Diễn Phi Luật Tân “chấm”
  • Cùng lúc là minh tinh của ba bộ phim đều thành công, Khánh Ngọc cũng được khán giả mến mộ nhiều nên cô đã ca hát mỗi tối ở các vũ trường lớn của Saigon, Chợ Lớn lúc bấy giờ. Khánh Ngọc là một vì sao sáng chói nhất của vòm trời ca nhạc điện ảnh Việt Nam.
  • Trong đời của nghệ sĩ Khánh Ngọc thì bộ phim “Ràng Buộc” trình chiếu năm 1958 để lại cho cô nhiều kỷ niệm nhất bởi đây là một bộ phim tình cảm, tâm lý xã hội không hề liên qua gì đến những vấn đề chính trị như hai bộ phim đầu tiên của mình. Đây là một sản phẩm thuộc thể loại tình cảm do Alpha Phim sản xuất. Phim trắng đen. Đạo diễn: Thái Thúc Nha. Diễn viên chính: Anh Tứ vai Nghị, Khánh Ngọc vai Mộng Lan, Bảy Xê vai Ông hội đồng Chỉ…Câu chuyện éo le về cuộc đời của Mộng Lan. Mộng Lan yêu Nghị từ thuở còn rất trẻ. Rồi Nghị sang Pháp du học. Lan mang ơn gia đình Cường và vì trước khi nhắm mắt. mẹ của Cường muốn anh lấy vợ để bà yên lòng, nên Cường và Lan làm hôn lễ. Không bao lâu sau, Cường vào chiến khu chống Pháp rồi mãi mãi không trở về . Hai mươi tuổi, góa chồng giữa cuộc đời u ám, không nơi nương tựa, Lan đành xuôi tay nhận lời cầu hôn về làm vợ bé của ông hội đồng Chỉ mà nàng không hề biết đây là chú của Nghị. Nghị du học trở về, sau 5 năm trời xa quê hương, Nghị rất nhớ Mộng Lan. Gặp lại nhau trong hoàn cảnh éo le không biết nên khóc hay cười, vì người yêu đã thành…thím của mình. Ông Chỉ muốn cháu hạnh phúc nên thuyết phục Nghị lấy Tuyết. Tuyết cũng là một thiếu nữ gia giáo, xinh đẹp và thông minh, tính tình cũng rất dễ thương. Nhưng giữa Nghị và Tuyết là hai tâm hồn khác nhau, một bên là Tây học, còn người kia là Nho giáo…Tình cảm khắn khít của đôi bạn Nghị- Lan được nhen nhúm lại. Họ càng thấy rất tâm đầu ý hợp. Những hành động của họ không thể nào qua mắt được ông hội đồng Chỉ…Giữa lễ giáo gia phong và tình yêu trai , họ thật khó nghĩ ra đúng hướng đi cho mình.
  • Bộ phim rất ăn khách. Diễn xuất của Khánh Ngọc được đánh giá cao. Phim đã đưa tài năng và tên tuổi của nam tài tử đẹp trai Anh Tứ trở thành người được công chúng yêu thích thời bấy giờ…Đây là phim cuối cùng của Khánh Ngọc trước khi rời Việt Nam sang Mỹ du học.
  • Sau 1961 cô đi Hoa Kỳ để học thêm về ngành điện ảnh, hết bốn năm du học tại một truờng đại học kịch nghệ ở Hoa Kỳ, cô có đóng một phim tại Hollywood với nhiều tài tử của Hoa Kỳ, và cũng đi hát rất nhiều ở các tiểu bang của Mỹ . Trong thời gian lưu diễn các tiểu bang của Mỹ, Khánh Ngọc gặp một du học sinh Việt Nam, hai người đã kết hôn và có ba con nên rất bận rộn và gia đình cũng ngăn cản con đuờng nghệ thuật của cô. Tuy nhiên cô không buồn vì rất hạnh phúc với gia đình. Khánh Ngọc xa cách màn bạc và ca hát để lại biết bao nổi nhớ thương của khán giả trong nước…Hiện nay Khánh Ngọc đang ở Los Angeles, rất bằng lòng với đời sống hiện tại, lâu lâu đi hát cho các hội từ thiện và bạn bè ở các tiểu bang, rất vui gặp lại bạn bè mới và cũ. Niềm vui hiện tại hiện nay của Khánh Ngọc là với gia đình.Cô đã là bà của các cháu. Con cái đều thành đạt. Khánh Ngọc rất thích nấu nướng và làm bánh… Mỗi lần đi các tiểu bang, gặp lại khán giả đã biết cô và vẫn giữ lòng quý mến cô, Khánh Ngọc cảm thấy rất là hạnh phúc. Những kỷ niệm trong đời nghệ sĩ là những kỷ niệm đẹp mà Khánh Ngọc trân quý, mỗi lần gặp lại bạn bè, nhắc những kỷ niệm cũ cô cảm thấy rất vui và tưởng chừng như mới hôm qua, Khánh Ngọc luôn giữ những kỷ niệm đẹp này trong tâm trí với ước mong một ngày không xa sẽ trở về Việt Nam sống cho hết khoản đời còn lại./.
  • (Theo VH)
  •    NGƯỜI TÌNH TRONG TÌNH KHÚC:

  •  Người tình trong “Nửa hồn thương đau” của nhạc sĩ Phạm Đình Chương
  • Tôi là sống để yêu thương và viết. Trong loạt bài Người tình trong tình khúc do tôi sưu tập và viết lại không với ý nghĩa là một công việc “thóc mách”, mà viết với tâm cảm chia sẻ để chúng ta cùng chiêm nghiệm và chiêm ngưỡng những cuộc tình đẹp, mãi đẹp… dù phải chia lìa, hay vẫn có nhau bên đời này”
  •  Người tình trong ca khúc “Nửa hồn thương đau” của Phạm Đình Chương (*) chính là tài tử kiêm ca sĩ Khánh Ngọc của thập niên 1950 tại Saigon. Bà Khánh Ngọc đã dứt áo ra đi khiến ông Phạm Đình Chương vô cùng đau khổ, nhưng ông vẫn yêu bà tha thiết cho đến khi ông qua đời vào năm 1991 tại Hoa Kỳ.
  • Phạm Đình Chương là ai?

  • Nhạc sĩ Phạm Đình Chương sinh năm 1929 tại Bạch Mai, Hà Nội. Khi soạn nhạc ông lấy tên thật là Phạm Đình Chương. Đi hát có tên là Hoài Bắc. Quê nội ở Hà Nội, còn quê ngoại ở Sơn Tây. Ông xuất thân trong một gia đình mang truyền thống âm nhạc, thân phụ là Phạm Đình Phụng. Người vợ đầu của cha ông sinh được 2 người con trai tên Phạm Đình Sỹ và Phạm Đình Viêm. Phạm Đình Sỹ lập gia đình với nữ kịch sĩ Kiều Hạnh và có con gái là ca sĩ Mai Hương. Còn Phạm Đình Viêm tức ca sĩ Hoài Trung, trong ban hợp ca Thăng Long như đã nói. Người vợ sau, tức mẹ ruột Phạm Đình Chương, sinh 3 người gồm trưởng nữ là Phạm Thị Quang Thái, tức ca sĩ Thái Hằng, vợ nhạc sĩ Phạm Duy. Con trai thứ là nhạc sĩ Phạm Đình Chương, và cô con gái út là Phạm Thị Băng Thanh, tức nữ ca sĩ Thái Thanh.Khánh Ngọc là ai?
  • Khánh Ngọc là một ca sĩ thành danh trong làng nhạc từ những năm giữa thập niên 1950 đến đầu thập niên 1960. Cô còn là một diễn viên điện ảnh nổi tiếng trước cả Kim Cương, Thẩm Thúy Hằng, Trang Thiên Kim, Kiều Chinh… Khán giả ngày hôm nay có thể không biết đến cô, nhưng trong ký ức những khán giả miền Nam trước năm 1975…và nhất là những khán giả tuổi U60-70 thì Khánh Ngọc là một trong những ngôi sao thuộc thế hệ đầu tiên sáng chói trong làng điện ảnh Sài Gòn.
  • Từ nhỏ, lúc còn đi học, cô rất thích ca nhạc, nên năm 12 tuổi đã theo học nhạc với nhạc sĩ Dương Thiệu Tước và Minh Trang, lúc đó cặp nghệ sĩ này giữ phần ca nhạc ở Đài Phát thanh Pháp Á và Quốc gia. Cuộc đời nghệ thuật của cô bắt đầu từ đó. Bản nhạc đầu tiên cô trình diễn là bản “Tiếng hát lênh đênh” của Từ Pháp, hát ở rạp Nam Việt, Saigon. Lúc đó trước khi trình chiếu phim luôn có những chương trình phụ diễn tân nhạc và ca sĩ Khánh Ngọc đã hát hằng tuần ở các rạp Nam Việt, Nam Quang, Văn Cầm, Đại Nam và đi lưu diễn nhiều nơi khác.
  • Đến năm 13, 14 tuổi, ca sĩ Khánh Ngọc hát ở các đài phát thanh và hát trong các chương trình đại nhạc hội ở Saigon, các tỉnh, Đà Lạt, và ra miền Trung, Sau đó ca sĩ Khánh Ngọc gia nhập ban Gió Nam trong đó có Thái Thanh, Thái Hằng, Hoài Trung và Hoài Bắc, rồi ra Bắc thì có Trần Văn Trạch, nhạc sĩ Võ Đức Thu và ban ca nhạc nhảy múa là Lưu Hồng, Lưu Bình. Vào năm 1955 có phái đoàn ngoại quốc đến Saigon để tìm các diễn viên cho phim “ASMN”. Đạo diễn phim này là người Phi Luật Tân cũng chọn nhiều diễn viên, nhưng qua một chương trình nhạc cảnh “Được mùa” do ban hợp ca Thăng Long trình diễn tại rạp Việt Long, đạo diễn Phi Luật Tân “chấm” cùng lúc là minh tinh của ba bộ phim đều thành công, Khánh Ngọc cũng được khán giả mến mộ nhiều nên cô đã ca hát mỗi tối ở các vũ trường lớn của Saigon, Chợ Lớn lúc bấy giờ. Khánh Ngọc là một vì sao sáng chói nhất của vòm trời ca nhạc điện ảnh Việt Nam.(1)
  • Khánh Ngọc lúc ấy đang là vợ của nhạc sĩ Phạm Đình Chương, là một ca sĩ được nhiều người biết với tên gọi “ngọn núi lửa”, bởi cô có bộ ngực hấp dẫn và thường quyến rũ khán giả say đắm mỗi khi cô lên hát.Thời gian này, nhạc sĩ Phạm Đình Chương đã nghe phong thanh Khánh Ngọc ngoại tình. Nhưng vì tình yêu, nên ông vẫn tin tưởng vợ và bỏ ngoài tai tất cả những nguồn tin “lá cải” ấy, cho đến khi biết được sự thật không thể phủ nhận được. Vào những năm của thập kỷ 1960, báo chí Sài Gòn xôn xao vụ ly dị của vợ chồng ca nhạc sĩ Phạm Đình Chương – Khánh Ngọc.Ông đau đớn đến không còn muốn sống vì ông rất yêu vợ, nhưng bấy giờ dư luận xã hội đều lên án việc ngoại tình của vợ nên đành phải gửi đơn xin ly dị, và trong một đêm khổ hận tuyệt cùng – bài thơ “Nửa hồn thương đau” được ông phổ thành một bài hát gắn kết với cuộc hận tình suốt một đời của ông.
  • Bà Khánh Ngọc giờ ra sao?
  • Sau khi ly hôn và giao đứa con trai khoảng 4 tuổi lại cho nhạc sĩ Phạm Đình Chương nuôi, năm 1961, bà Khánh Ngọc qua Mỹ học về điện ảnh. Trong một cuộc phỏng vấn được đưa lên YouTube do bà Tuyết Mai thực hiện tại Florida vào năm 2007 (2), người viết thấy bà Khánh Ngọc còn đẹp, nhất là nhìn hấp dẫn lắm, ánh mắt rất đa tình, ác liệt, miệng rộng, hơi móm nhưng duyên dáng. Bà nhắc lại những giai đoạn ca hát như ở trên. Có lẽ bà Tuyết Mai nóng ruột tò mò muốn hỏi về những chuyện riêng của “ngày xưa”, nhưng ý tứ không dám sỗ sàng. Riêng bà Khánh Ngọc lúc nào cũng cười, khi nhắc đến ban hợp ca Thăng Long, thái độ bà rất thản nhiên, bà cho biết, khi qua Mỹ, bà gặp một du học sinh và hai người hiểu nhau rồi kết hôn. Hiện bà có 3 người con và đang sống hạnh phúc tại Losan. Bà vẫn thường xuyên đi đây đó ca hát trong những hội đoàn cộng đồng bè bạn và ao ước được về sống tại Việt Nam trong những ngày cuối đời.
  • khánh Ngọc xưa và nay.
  • Người viết chưa thấy tài liệu nào nói ông Phạm Đình Chương có  gặp lại bà Khánh Ngọc lần nào không. Nhưng trong bài Tưởng mộ Phạm Đình Chương của Mai Thảo, và trong bài tưởng mộ Mai Thảo của bà Lê Thị Huệ có nhắc đến bà Ý Liên, người vợ sau của nhạc sĩ Phạm Đình Chương và vẽ lại hình ảnh bà như sau: “Hai lần tôi gặp Liên trong hai đêm tối. Một lần ở nhà Phạm Đình Chương ở ngôi nhà vùng Norwalk, khi tôi ngó thấy Ý Liên lần đầu tiên, tôi nói với Mai Thảo và Phạm Đình Chương, Liên là Liên tiểu thuyết. Liên im ắng nhìn tôi và ngồi yên trong vị trí tôi đặt định cho Liên. Đêm nay tôi gặp lại Liên, hai ông kia không còn. Nhưng một người đàn ông khác, ông Đặng Trần Thức quay lại mời Liên ngâm một bài thơ. Đêm sâu và giọng Liên nhung êm: “Trời cuối thu rồi em ở đâu. Nằm trong mồ lạnh chắc em sầu” Tình yêu Liên rút lòng ra rũ rượi như bóng ma da đêm. Đâu đó thấy hai chiếc bóng Phạm Đình Chương và Mai Thảo in trên tường nhà Trần Diệu Hằng đêm nay!…” (3)
  • Chúng ta hãy nghe lại bài hát này với giọng ca Thái Thanh, để khắc khoải, buồn cho một cuộc tình không trọn vẹn, như của tôi, như của bạn, như của những người chung quanh chúng ta…
  • . thụyvi Hầm Nắng, Michigan 10-6-2011)
  • (*) Bài hát “Nửa hồn thương đau“ có lời không phải phổ từ thơ của Thanh Tâm Tuyền (như nhiều người lầm tưởng), mà chính do Phạm Đình Chương viết (lời, nhạc và tựa) xong vào năm 1970, được dùng làm nhạc đệm cho phim “Chân trời tím“ (truyện của Văn Quang do Liên Ảnh Công ty của Quốc Phong làm giám đốc). Trong bản “Nửa hồn thương đau”, Phạm Đình Chương chỉ mượn duy nhất 2 câu chót trong bài thơ “Lệ đá” của Thanh Tâm Tuyền mà Cung Tiến từng phổ nhạc mà thôi.
    (Chi tiết này do chính PĐC kể trong một bài viết của DTL mà nhiều bài viết trước đó cứ lẩn lộn viết không chính xác. Xin phép tác giả được trích lại để bổ túc cách khả tín cho tư liệu).
  • Cảm ơn, và xin phép được trích:
  • (1) Trang VNNSG (Nguyễn Việt)
  • (2) Clip YouTube của phóng viên Tuyết Mai (Washington DC) (3) Trang Gió
  • Filed Under: Tin tức cập nhật

    Thông tin về tác giả:

    Dòng thông tin - RSSÝ kiến: (0)

    Trở lại URL

    Vui lòng để lại một ý kiến đóng góp




    Nếu bạn muốn có một hình ảnh để hiển thị với bình luận của bạn, hãy lấy một Gravatar.